Qui chế học tập

Qui chế học tập

3. Kiểm tra và thi học phần

Điều 19. Đánh giá học phần

Điểm tổng hợp đánh giá học phần gọi là điểm học phần gồm 3 điểm thành phần.

*/ Điểm chuyên cần:             Chiếm tỷ lệ 10%

*/ Điểm giữa kỳ:                      Chiếm tỷ lệ 30%

*/ Điểm cuối kỳ:                     Chiếm tỷ lệ 60%

Lưu ý: Điểm chuyên cần chỉ chấm ở 3 mức

(Vắng > 20% tổng số tiết = 0 điểm, vắng từ 10% - 20% = 5điểm, vắng < 10% = 10 điểm)

→ Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận, trừ bài thi kết thúc học phần.

Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, trường tổ chức thi lần 1 cuối kỳ của các học phần và đầu học kỳ mới trường tổ chức thi lần 2 cuối kỳ của các học phần dành cho những sinh viên không tham dự lần 1 hoặc có học phần bị điểm < 5 ở kỳ thi lần 1(lưu ý: Chuyên cần và giữa kỳ không có thi lần 2)

2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ. Hiệu trưởng quy định cụ thể thời gian dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi.

Điều 21. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi hoặc lấy từ ngân hàng đề thi được thực hiện theo quy định của Hiệu trưởng.

2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hiệu trưởng duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần.

3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm.

Hiệu trưởng quy định việc bảo quản các bài thi, quy trình chấm thi và lưu giữ các bài thi sau khi chấm. Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận, bài tập lớn ít nhất là hai năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận, bài tập lớn.

4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn hoặc trưởng khoa quyết định.

Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi và làm thành ba bản. Một bản lưu tại bộ môn, một bản gửi về văn phòng khoa và một bản gửi về phòng đào tạo của trường, chậm nhất một tuần sau khi kết thúc chấm thi học phần.

5. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi lần 1. Những sinh viên này khi được trưởng khoa cho phép được dự thi một lần ở kỳ thi lần 2 ngay sau đó.

6. Sinh viên vắng mặt có lý do lần 1 ở kỳ thi chính, nếu được trưởng khoa cho phép, được dự thi ở kỳ thi lần 2 ngay sau đó, điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu.

Lưu ý: Điểm thi lần 1 dùng để khen thưởng và xét học bổng.

Điều 22. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần

1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.

2. Thang điểm 10 là thang điểm chính thức, thang điểm 4 chỉ mang tính tham khảo, chuyển đổi khi cần thiết không dùng để ghi và phân loại kết quả đánh giá.

 

Thang điểm chính thức 10

Thang điểm 4

Điểm chữ

Điểm số

8.5 ÷ 10

A

4

7.0 ÷ 8.4

B

3

5.5 ÷ 6.9

C

2

4.0 ÷ 5.4

D

1

Dưới 4

F

0

 

Điều 23. Cách tính điểm trung bình chung

 Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:

Trong đó:

A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy

ai là điểm của học phần thứ i

ni là số tín chỉ của học phần thứ i

n là tổng số học phần.

Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi.